Cuối tháng 2 năm 1998, tại một bệnh viện ở London, có một buổi họp báo.
Người đứng trước ống kính hôm đó là một bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa tên Andrew Wakefield. Ông vừa có một bài báo sắp đăng trên The Lancet, một trong những tạp chí y khoa lâu đời và uy tín nhất thế giới.
Nội dung bài báo: có thể có mối liên hệ giữa vaccine sởi quai bị rubella, một dạng viêm ruột, và tự kỷ khởi phát muộn ở trẻ.
Bài báo dựa trên hồ sơ của mười hai đứa trẻ.
Mười hai. Không phải mười hai nghìn. Mười hai.
Đó là toàn bộ nền tảng thực nghiệm của nỗi sợ y tế dai dẳng nhất mà thế giới hiện đại từng chứng kiến.
MỘT MẪU MƯỜI HAI NGƯỜI NÓI LÊN ĐƯỢC ĐIỀU GÌ
Trong y học, một loạt mười hai ca bệnh không chứng minh được nhân quả. Nó không thể, về mặt cấu trúc.
Không có nhóm đối chứng, nên không so được với những trẻ không tiêm. Không phân ngẫu nhiên, nên không loại được các yếu tố khác cùng tác động.
Loại nghiên cứu này chỉ có một công dụng duy nhất: nêu một giả thuyết để người khác đi kiểm chứng. Bản thân bài báo năm 1998 cũng không hề tuyên bố đã chứng minh được nhân quả.
Nếu câu chuyện dừng ở đó, nó đã chỉ là một bài báo bình thường, được vài chục nhà nghiên cứu đọc rồi quên.
CÂU NÓI ĐÃ ĐI VÒNG QUANH THẾ GIỚI
Nhưng tại buổi họp báo hôm ấy, Wakefield nói thêm một điều không có trong bài báo.
Ông khuyến nghị ngừng dùng vaccine phối hợp ba trong một, và chuyển sang tiêm từng loại riêng lẻ.
Chính câu đó, chứ không phải bài báo, là thứ lan ra thế giới.
Báo chí Anh đưa tin dày đặc trong nhiều năm. Dòng thời gian do Science Media Centre tổng hợp cho thấy cơn bão truyền thông kéo dài gần một thập kỷ.
Và các bà mẹ Anh đã nghe.
NƯỚC ANH ĐÃ TRẢ GIÁ THẾ NÀO
Đây là phần mà người ta ít kể lại nhất, dù nó là phần đo đếm được.
Theo báo cáo của Thư viện Quốc hội Anh, tỷ lệ tiêm vaccine sởi quai bị rubella tại Anh giảm từ 87,4 phần trăm trong năm 2000 tới 2001, xuống còn 79,9 phần trăm trong năm 2003 tới 2004.
Đó là mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con số nghe không đáng sợ. Bảy chín phẩy chín phần trăm thì vẫn là gần tám mươi phần trăm trẻ được tiêm.
Nhưng sởi không hoạt động theo cách đó. Nó là một trong những bệnh dễ lây nhất từng được biết tới. Một người mắc có thể lây cho mười hai tới mười tám người chưa có miễn dịch. Muốn chặn được nó, cần khoảng chín mươi lăm phần trăm dân số có miễn dịch.
Dưới ngưỡng đó, virus tìm được đường đi.
Trong suốt giai đoạn từ 1995 tới 2001, chưa năm nào toàn nước Anh và xứ Wales vượt quá 177 ca sởi.
Đến năm 2008, chỉ riêng vùng Tây Bắc đã có 180 ca. Đông Nam 127 ca. Tây Midlands 109 ca.
Một căn bệnh gần như đã bị đẩy lùi khỏi nước Anh đã quay trở lại.
Không đứa trẻ nào trong số đó bấm nút quyết định. Quyết định do người lớn đưa ra, dựa trên một bài báo về mười hai đứa trẻ.
NGƯỜI ĐI TÌM SỰ THẬT
Trong lúc đó, một nhà báo tên Brian Deer bắt đầu làm một việc mà lẽ ra giới khoa học phải làm trước.
Ông đi lấy hồ sơ bệnh án gốc của từng đứa trẻ trong số mười hai, rồi đặt cạnh những gì đã được mô tả trong bài báo.
Kết quả, công bố trên British Medical Journal và được tạp chí Science tường thuật lại, là điều không ai chuẩn bị tinh thần để nghe.
Không một ca nào trong mười hai ca là không có sai lệch hoặc thay đổi không được khai báo.
Không ca nào có hồ sơ bệnh án khớp hoàn toàn với mô tả, chẩn đoán, hay diễn biến đã được công bố.
British Medical Journal gọi công trình này bằng một từ mà các tạp chí khoa học gần như không bao giờ dùng: gian lận.
Không phải sai sót. Không phải nhầm lẫn. Gian lận.
PHẦN VỀ TIỀN
Nhưng câu hỏi vẫn còn đó. Vì sao một bác sĩ lại làm như vậy.
Deer tiếp tục đào, và công bố kết quả trên tờ The Sunday Times.
Theo các số liệu có được nhờ luật tiếp cận thông tin, Wakefield đã nhận 435.643 bảng Anh tiền thù lao, cộng thêm 3.910 bảng chi phí, từ các luật sư.
Số tiền này nằm trong khoản 3,4 triệu bảng được chi từ quỹ trợ giúp pháp lý cho các bác sĩ và nhà khoa học được tuyển để hỗ trợ một vụ kiện nhắm vào các nhà sản xuất vaccine.
Vụ kiện đó về sau thất bại.
Và còn một chi tiết nữa. Trước khi bài báo được đăng, đã có một đơn xin cấp bằng sáng chế nộp thay mặt Wakefield cho một loại vaccine sởi đơn lẻ.
Hãy đọc lại câu này thật chậm.
Người khuyến nghị công chúng ngừng dùng vaccine phối hợp và chuyển sang vaccine đơn lẻ, chính là người có phần trong một bằng sáng chế cho vaccine sởi đơn lẻ.
Không có điều nào trong số này được khai báo khi bài báo được đăng.
Wakefield sau đó kiện Brian Deer. Sau hai năm, ông rút đơn kiện và phải trả toàn bộ án phí cho các bị đơn.
MƯỜI HAI NĂM SAU
Tháng 1 năm 2010, Hội đồng Y khoa Anh kết luận Wakefield vi phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp. Ông bị xóa tên khỏi danh bạ hành nghề y tại Anh.
Tháng 2 năm 2010, The Lancet chính thức rút bài báo.
Rút bài là hình phạt nặng nhất mà một tạp chí khoa học có thể áp dụng. Nó có nghĩa là công trình đó không còn được coi là một phần của tài liệu khoa học nữa. Coi như chưa từng tồn tại.
Báo cáo tổng hợp của CIDRAP ghi lại toàn bộ diễn biến này.
NHƯNG NỖI SỢ KHÔNG BỊ RÚT THEO
Đây mới là phần khiến tôi nghĩ nhiều nhất.
Bài báo được đăng năm 1998, xuất hiện trên trang nhất của gần như mọi tờ báo lớn.
Bài báo bị rút năm 2010, và chỉ có giới chuyên môn theo dõi.
Có một quy luật đã được nghiên cứu trong truyền thông: thông tin đính chính hầu như không bao giờ đi được xa bằng thông tin gốc.
Kết quả là gần ba mươi năm sau, ở một đất nước cách nước Anh nửa vòng trái đất, vẫn có những người mẹ nằm thức lúc hai giờ sáng và tự hỏi có phải mũi tiêm hôm đó đã làm hỏng con mình.
Tôi đã ngồi với nhiều người mẹ như vậy.
Câu hỏi luôn giống nhau. Có phải tại tôi không. Có phải hôm đó tôi đừng đưa con đi tiêm thì bây giờ con đã khác.
Và tôi muốn nói với chị, rõ ràng và dứt khoát: không phải.
Không phải tại chị.
ĐIỀU KHOA HỌC ĐÃ LÀM SAU ĐÓ
Sau năm 1998, giới khoa học không phớt lờ câu hỏi này. Ngược lại, họ kiểm tra nó kỹ hơn gần như mọi giả thuyết khác về nguyên nhân tự kỷ.
Riêng nghiên cứu đoàn hệ toàn quốc tại Đan Mạch đã theo dõi 657.461 trẻ, và kiểm tra riêng cả nhóm trẻ có anh chị em ruột mắc tự kỷ, tức nhóm được cho là nhạy cảm nhất.
Không tìm thấy mối liên hệ nào.
Ngoài ra còn một lập luận không dựa vào thống kê. Những khác biệt trong cấu trúc não ở trẻ về sau được chẩn đoán tự kỷ đã có thể quan sát được từ tam cá nguyệt thứ hai của thai kỳ.
Tức là từ khi con còn nằm trong bụng mẹ. Trước bất kỳ mũi tiêm nào.
Về mặt thời gian, một việc xảy ra sau không thể là nguyên nhân của một việc đã xảy ra trước.
VÌ SAO NỖI SỢ ẤY VẪN HỢP LÝ VỚI NHIỀU NGƯỜI
Tôi chưa bao giờ nghĩ những cha mẹ tin vào chuyện này là thiếu hiểu biết.
Có một lý do rất người ở đây.
Các dấu hiệu tự kỷ thường trở nên rõ ràng với gia đình trong khoảng từ mười hai tới hai mươi bốn tháng tuổi. Đó cũng đúng là giai đoạn con nhận nhiều mũi tiêm theo lịch.
Hai việc xảy ra gần nhau. Và bộ não con người được cấu tạo để nối hai việc gần nhau thành nguyên nhân và kết quả. Đó là bản năng sinh tồn, không phải sự ngu ngốc.
Thêm nữa, khi một chuyện lớn xảy đến với con mình, người làm cha mẹ cần một lời giải thích. Sống trong tình trạng không biết vì sao là điều rất khó chịu đựng.
Một mũi tiêm là một lời giải thích gọn gàng. Nó có ngày tháng, có địa điểm, có người thực hiện.
Còn sự thật thì rối rắm hơn nhiều: hàng trăm gene, các quá trình bắt đầu từ trong bào thai, và không ai có lỗi cả.
Sự thật đó khó ôm hơn. Nhưng nó là sự thật, và nó cởi được một gánh nặng mà rất nhiều người mẹ đang tự vác trên lưng suốt nhiều năm.
CÁI GIÁ ÍT AI TÍNH TỚI
Ngoài những đứa trẻ mắc sởi, câu chuyện này còn để lại một cái giá khác, khó đo hơn nhiều.
Đó là thời gian và năng lượng của những gia đình bị cuốn vào câu hỏi tại sao.
Năng lượng của cha mẹ là hữu hạn. Những đêm thức trắng để truy tìm nguyên nhân trong quá khứ là những đêm bị lấy đi khỏi buổi sáng hôm sau.
Và phần duy nhất mà cha mẹ thật sự thay đổi được cho con lại nằm ở buổi sáng hôm sau đó, chứ không nằm trong quá khứ.
Chuyện đã xảy ra thì không sửa được. Nhưng những gì diễn ra từ đây trở đi thì có.
ĐIỀU CUỐI CÙNG
Câu chuyện về mười hai đứa trẻ ở London năm 1998 không phải chuyện của nước Anh.
Nó là chuyện của mọi gia đình đang đứng trước một lời hứa nghe rất thuyết phục, do một người có vẻ đáng tin nói ra.
Bốn câu hỏi sau đây có thể dùng cho bất cứ phương pháp nào, bất cứ lúc nào, và không cần bằng cấp gì để hỏi.
Nghiên cứu trên bao nhiêu người. Có nhóm đối chứng không. Đã có nhóm độc lập nào làm lại và ra cùng kết quả chưa. Và nơi phát hiện ra nó bây giờ còn làm nó nữa không.
Bốn câu đó, nếu người ta hỏi từ năm 1998, đã có thể giữ lại rất nhiều thứ.
Giữ lại niềm tin. Giữ lại tiền. Và ở nước Anh những năm sau đó, giữ lại được cả sức khỏe của những đứa trẻ chưa bao giờ được hỏi ý kiến.
NGUỒN THAM KHẢO
- Brian Deer trên The Sunday Times — Các khoản tiền lớn chi trả cho Andrew Wakefield
- Brian Deer — Hồ sơ bằng sáng chế vaccine của Wakefield
- Immunize.org — Gian lận đằng sau nỗi sợ MMR, điều tra của Brian Deer trên BMJ
- Science — Tạp chí Y khoa Anh cáo buộc gian lận trong bài báo về vaccine và tự kỷ
- CIDRAP — Báo cáo kết luận nghiên cứu năm 1998 là gian lận
- Thư viện Quốc hội Anh — Thống kê sởi và tiêm chủng MMR
- Science Media Centre — Dòng thời gian tranh cãi MMR
- Annals of Internal Medicine — Nghiên cứu đoàn hệ 657.461 trẻ tại Đan Mạch